VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

Quy hoạch Tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai

Tác giả: Chủ nhiệm dự án TS. Tô Văn Trường

 

1. Gii thiệu chung

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động liên quan đến phát triển tài nguyên nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ do nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế/lĩnh vực/hộ dùng nước không ngừng tăng cao kể cả chất và lượng. Các hoạt động nhằm cung cấp, phân phối nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng nước là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, các hoạt động này đã làm suy giảm nghiêm trọng môi trường thiên nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác sử dụng nguồn tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong lưu vực, vùng cũng như của đất nước đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường thoả mãn được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng lớn gây hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ mai sau.

Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai là một lưu vực sông “nội địa” có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội khu vực phía Nam nói riêng trong đó có vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và kinh tế quốc gia nói chung. Các vấn đề liên quan đến phát triển, quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông đang ngày càng trở nên nóng bỏng, môi trường lưu vực đang có xu hướng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Chính các vấn đề này làm cho việc xây dựng quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai trở nên cấp thiết hơn.

Lưu vực sông Đồng Nai nằm trên vùng đất liên quan đến các tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh và một phần thuộc các tỉnh Bình Thuận, Long An với tổng diện tích lưu vực khoảng 43.681,78 km2 (diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam là 36.481,21 km2) và có dân số tính đến năm 2005 khoảng 13.702.397 người, trong đó thành thị 7.263.826 người chiếm 53% và nông thôn 6.438.552 người chiếm 47% tổng dân số. Đây là vùng có tốc độ đô thị hoá nhanh và dân số thành thị chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với trung bình của cả nước. Xét về mặt sử dụng nước, vùng ven biển bao gồm các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nguồn nước ở lưu vực sông này, đặc biệt là các công trình chuyển nước đã, đang và dự kiến xây dựng, do đó khi nghiên cứu tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai cần phải xem xét đến cả khu vực ven biển bao gồm các lưu vực sông nhỏ có liên quan đến nguồn nước ở trên phạm vi của 11 tỉnh thành.

Lưu vực sông Đồng Nai là vùng có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn của đất nước. Số liệu thống kê cho thấy, lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đã đóng góp khoảng hơn 63% GDP công nghiệp, 41% GDP dịch vụ và 28% GDP nông nghiệp của cả nước. Ngoài ra, đây là vùng có nhiều tỉnh thành có đóng góp cho ngân sách quốc gia nhất cả nước (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương). Điều này một lần nữa khẳng định rằng tiềm năng phát triển kinh tế của lưu vực sông Đồng Nai có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế chung của quốc gia.

Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng đất đai phong phú, có khả năng phát triển nhiều loại cây công nghiệp, nông nghiệp có giá trị xuất khẩu cao như cao su, cà phê, tiêu, điều, cây ăn quả,… và có thể hình thành các vùng chuyên canh nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

Tiềm năng rừng trên lưu vực cũng rất lớn, song do việc mở rộng diện tích canh tác và khai thác bừa bãi, đặc biệt trong những thập niên 80, 90, nên diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể. Tính đến năm 2005, rừng trên lưu vực Đồng Nai chỉ chiếm khoảng 35,5% tổng diện tích tự nhiên. Ngoài rừng tự nhiên, rừng trồng cũng có diện tích lớn chủ yếu là các loại cây lâm nghiệp làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu có giá trị. Nhìn chung, rừng trên lưu vực bị tàn phá nặng nề, nhiều nơi chỉ còn đồi trọc, nên một số nơi tình trạng môi trường bị xuống cấp nghiêm trọng và hậu quả là đất bị xói mòn rửa trôi, đặc biệt để xảy ra lũ quét ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân. 

Hệ thống sông Đồng Nai là một trong 3 hệ thống sông lớn nhất của Việt Nam (sau sông Mê Kông và sông Hồng), bao gồm: dòng chính sông Đồng Nai và 4 phụ lưu lớn là sông La Ngà phía bờ trái, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ phía bờ phải.

Ngoài các tác động tự nhiên tự nhiên từ các yếu tố khí tượng thủy văn (mưa, dòng chảy, triều,...), lưu vực sông Đồng Nai còn chịu nhiều tác động từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trên lưu vực như các hoạt động phát triển nông nghiệp, phát triển thủy lợi, thủy điện, giao thông thủy,... ở cả thượng lưu và hạ lưu. Bên cạnh đó, hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực hạ lưu còn chịu tác động của dòng chảy lũ từ sông Mê Kông thông qua hệ thống sông kênh ở lưu vực Vàm Cỏ. 

Sông Đồng Nai là nguồn cung cấp nước chính cho phát triển nông nghiệp trong lưu vực và các vùng liên quan với tổng diện tích cần tưới khoảng 1,85 triệu ha. Đây còn là nguồn cung cấp nước chính cho phát triển công nghiệp và dân sinh với tổng lượng khoảng hơn 2 triệu m3/ngày. Các nhu cầu nước này sẽ còn tăng lên nhiều trong tương lai.

Các sông suối thuộc hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng phát triển thuỷ điện to lớn. Tổng lượng điện cung cấp cho khu vực hơn 5.000 GWh/năm. Hiện tại cũng như tương lai hệ thống thuỷ điện trên lưu vực là nguồn cung cấp năng lượng lớn cho khu vực.

Hạ lưu Đồng Nai-Sài Gòn có mạng lưới giao thông thuỷ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của vùng nối liền với vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như khu vực và quốc tế. Ngoài ra, hệ thống sông Đồng Nai, đặc biệt là vùng hạ lưu cùng với hệ thống các hồ chứa lớn, vừa và nhỏ trong lưu vực có tiềm năng lớn để phát triển thuỷ sản nội địa…

Chất lượng nước của hệ thống lưu vực sông Đồng Nai đã và đang có xu hướng bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là vùng hạ lưu Đồng Nai- Sài Gòn nơi tập trung các thành phố lớn, nhiều khu công nghiệp và dân cư đông đúc của lưu vực.

Tóm tại, hệ thống sông Đồng Nai là nơi hội tụ nhiều ngành/lĩnh vực/hộ dùng nước, đặc biệt là khu vực hạ lưu. Nhiều hộ dùng nước cùng sử dụng chung nguồn nước này luôn dẫn đến sự mâu thuẫn và mâu thuẫn này ngày càng trở nên khốc liệt hơn khi nguồn nước trong lưu vực trở nên hạn chế do các tác động của tự nhiên cũng như các hoạt động của con người. Chính vì vậy việc quy hoạch tài nguyên nước nhằm đưa ra các giải pháp hợp lý trong việc phân bổ nguồn nước một cách hợp lý cho các hộ dùng nước cũng như đề ra các giải pháp khắc phục, bảo vệ tài nguyên nước là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng trong quản lý tài nguyên nước.

Lưu vực sông Đồng Nai là một vùng rộng lớn, giàu tiềm năng phát triển kinh tế, liên quan đến nhiều tỉnh, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của miền Đông Nam bộ, khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung. Đây là lưu vực có vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam- là đầu tàu, cầu nối của các vùng kinh tế- có quy mô và tốc độ phát triển kinh tế-xã hội mạnh nhất cả nước. Sự phát triển mạnh của khu vực đặc biệt là công nghiệp và đô thị đã kéo theo các hệ quả về nhu cầu sử dụng nước trong khu vực tăng nhanh, bên cạnh đó do việc kiểm soát xử lý về việc xả thải các chất thải thiếu kiểm soát đã làm cho môi trường khu vực, đặc biệt là môi trường nước đang ở trong tình trạng báo động. Một quy hoạch mà ở đó không chỉ nhằm mục đích khai thác sử dụng đáp ứng các nhu cầu trước mắt, lâu dài mà còn phải nhằm bảo đảm môi trường trong sạch, ổn định cho phát triển trong tương lai là một trong những vấn đề hết sức cần thiết, và rất cấp bách.

Mặc dầu các vấn đề liên quan đến phát triển tài nguyên nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đã được nhiều cơ quan trong và ngoài nước nghiên cứu, nhưng các nghiên cứu này còn mang tính đơn ngành và chủ yếu tập trung vào các vấn đề khai thác nguồn nước mà chưa đi sâu vào quản lý tài nguyên nước trên cơ sở bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo phát triển bền vững. Do đó, để có cơ sở giải quyết những vấn đề về môi trường nước trước mắt cũng như có biện pháp khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước trong tương lai trong đó xem xét đến môi trường như là một yếu tố quyết định là một trong những vấn đề cần giải quyết.

Xét về điều kiện tự nhiên, lưu vực sông Đồng Nai có nhiều thuận lợi để phát triển một nền kinh tế toàn diện, nhưng cũng không ít khó khăn làm cản trở đến tốc độ phát triển kinh tế toàn vùng. Một trong những khó khăn không nhỏ là các công trình khai thác sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước hiện tại còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu cho phát triển kinh tế-xã hội trên lưu vực. Vì vậy, để góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế cho khu vực nói chung và lưu vực hệ thống sông Đồng Nai nói riêng, cần phải sớm thiết lập quy hoạch tài nguyên nước cho lưu vực phù hợp với tình hình hiện tại và phương hướng phát triển kinh tế bền vững lâu dài.

Các quy hoạch trước đây được thực hiện khi chức năng quản lý tài nguyên nước còn thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT. Nay với chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước đã được giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, do đó, việc lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực là hết sức cần thiết để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý lưu vực sông.

Các nghiên cứu quy hoạch được xác lập trước đây chủ yếu giải quyết vấn đề tưới, cấp nước cho các khu công nghiệp, đô thị và khu dân cư tập trung mà chưa đề cập nhiều đến những vấn đề khác như kiểm soát lũ lụt, nuôi trồng thuỷ sản, giao thông thuỷ, bồi lắng và xói lở bờ sông, kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ và chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước... Ngoài ra, những nghiên cứu quy hoạch thuỷ lợi/quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước trước đây chủ yếu mới đi sâu vào đề xuất những giải pháp công trình, chưa gắn giữa giải pháp công trình và phi công trình, chưa thống nhất giữa xây dựng - quản lý và bảo vệ, chưa kết nối giữa người quản lý tài nguyên và người sử dụng tài nguyên, chưa lồng ghép việc xây dựng các giải pháp tuyên truyền, giáo dục cộng đồng và các biện pháp chế tài mang tính luật pháp, chưa phối hợp giữa giám sát, quản lý, vận hành và điều chỉnh...    

Do vậy, việc nghiên cứu xây dựng một quy hoạch tài nguyên nước đến 2020 có vị trí rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển bền vững cũng như góp phần bảo vệ môi trường cho lưu vực sông Đồng Nai. Đây cũng chính là lý do của việc thực hiện dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai.

  2.  Mục tiêu dự án

Để đạt được mục tiêu chung bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia trên cơ sở quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chủ động phòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do nước gây ra; từng bước hình thành ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các nước có chung nguồn nước với Việt Nam, cũng như các mục tiêu cụ thể đưa ra trong Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức xây dựng các quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông trong đó có lưu vực sông Đồng Nai. Mục tiêu dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai gồm:

1. Xây dựng khuôn khổ chung cho công tác bảo vệ, khai thác, phát triển và sử dụng tài nguyên nước; phòng chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra và bảo vệ môi trường có liên quan đến tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai, bao gồm xác định các mục tiêu, các vấn đề ưu tiên và giải pháp tổng thể cho việc thực hiện các mục tiêu đặt ra của quy hoạch;

2. Xác định các quy tắc, các hoạt động cần thực hiện để quản lý, sử dụng tổng hợp và bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai, bao gồm:

- Phân bổ nguồn nước, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên nước;

- Bảo vệ tài nguyên nước và các hệ sinh thái thủy sinh;

- Phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra.

3.  Nội dung chủ yếu của dự án

Các nội dung chủ yếu cần phải thực hiện là:

1. Điều tra, thu thập, tổng hợp, phân tích các thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; tình hình hiện trạng bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước; phòng, chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra và tình hình quản lý, bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực sông Đồng Nai phục vụ cho việc lập quy hoạch.

2. Đánh giá tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra và bảo vệ môi trường liên quan đến tài nguyên nước ở lưu vực sông Đồng Nai.

3. Phân tích, đánh giá cân bằng giữa tài nguyên nước và nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các ngành, các lĩnh vực, các địa phương trong lưu vực sông Đồng Nai nhằm bảo đảm các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường.

4. Nhận định xu thế biến đổi về số lượng, chất lượng nước và môi trường lưu vực, những rủi ro thiệt hại do nước gây ra.

5. Tổng hợp xác định các vấn đề, mục tiêu quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Đồng Nai.

6. Định hướng quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước; phòng chống, giảm nhẹ tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông.

7. Nghiên cứu các giải pháp phục vụ quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, phòng chống giảm thiểu tác hại do nước gây ra ở lưu vực sông Đồng Nai và đề xuất giải pháp, định hướng trong việc thực hiện quy hoạch:

- Xác định thứ tự ưu tiên đối với các giải pháp đề xuất;

- Tổ chức hội thảo, lấy ý kiến và các vấn đề mục tiêu, định hướng, giải pháp về tài nguyên nước.

8. Xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai trình duyệt; giao nộp sản phẩm theo quy định.

4.  Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ diện tích lưu vực sông Đồng Nai liên quan đến các tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước, Đắc Nông, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh (TPHCM) và một phần thuộc các tỉnh Bình Thuận, và Long An với tổng diện tích là 36.481,21 km2. Xét về mặt sử dụng nước, vùng ven biển gồm các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nguồn nước ở lưu vực sông này, đặc biệt là các công trình chuyển nước đã có và đang xây dựng, do đó trong nghiên cứu quy hoạch tài nguyên nước này phạm vi nghiên cứu sẽ bao trùm đến cả khu vực ven biển bao gồm các lưu vực sông nhỏ có liên quan đến nguồn nước trên phạm vi 11 tỉnh thành với tổng diện tích liên quan lên đến 49.643,53 km2.

5.   Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai là nguồn tài nguyên nước (kể cả nước mặt và nước ngầm, cả về số lượng và chất lượng) thuộc lưu vực sông Đồng Nai và vùng phụ cận cùng tất cả các vấn đề liên quan đến phát triển và bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực bao gồm như vấn đề thể chế, chính sách phát triển nguồn nước liên quan, phát triển thuỷ điện, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, giao thông thuỷ, du lịch dịch vụ, các vấn đề về môi trường,...

6.   Kết luận

1Hàng năm trên LVSĐN&PC nhận một lượng lớn nước mưa 108 tỷ m3 (trong đó LVSĐN 89 tỷ m3). Tuy nhiên lượng mưa này phân bố không đều trong năm (lượng mưa mùa khô khoảng 15 tỷ m3 trong khi đó mùa mưa chiếm gần 92 tỷ m3); và cũng không phân bố đều về mặt không gian. Vùng ven biển có lượng mưa nhỏ và ngược lại. Tổng lượng dòng chảy năm trên lưu vực khoảng 415 tỷ m3. Nếu không xét đến dòng chảy từ sông Vàm Cỏ Tây (con sông chịu ảnh hưởng nhiều từ hạ lưu sông Mekong) thì tổng lượng nước mặt LVSĐN&PC hàng năm nhận được là 386 tỷ m3 trong đó LVSĐN là 32 tỷ m3 và vùng ven biển là 66 tỷ m3.  Tương tự mưa dòng chảy trên lưu vực cũng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Những vùng ít nước nhất nằm ở 2 phía cực Đông (vùng ven biển) và cực Tây (sông Vàm Cỏ). Mùa lũ kéo dài khoảng 5 – 6 tháng (có nơi chỉ 3 – 4 tháng) với tổng lượng dòng chảy chiếm 80 – 85% dòng chảy năm. Mùa khô kéo dài 5-7 tháng gây khó khăn không nhỏ đối với phần lớn sông suối trên LVSĐN&PC. Do đó phải sử dụng các hồ chứa để điều tiết dòng chảy (đặc biệt là các hồ chứa vừa và nhỏ để có thể rải nước trên lưu vực) và bổ sung nước ngầm. Trữ lượng nước ngầm 97.106m3/ngày vào loại trung bình (trữ lượng động) với độ khoáng M £ 10g/l chiếm 9297%.

2. Nguồn nước sông Đồng Nai hiện được khai thác phục vụ tưới phát điện giao thông thủy cấp nước cho công nghiệp sinh hoạt. Tổng lượng cấp nước cho 3 ngành chủ yếu: nông nghiệp công nghiệp sinh hoạt vào năm 2005 khoảng trên 77 tỷ m3 chiếm 163% tổng lượng dòng chảy năm trong đó nông nghiệp (trồng trọt thuỷ sản) 849%; sinh hoạt 81% công nghiệp 70%. Nhu cầu sử dụng nước của tất cả các ngành năm 2015 khoảng 11 tỷ m3 tăng 43% nhu cầu sử dụng nước hiện tại; đến năm 2020 khoảng 128 tỷ m3 tăng 66% so với hiện tại. Trong các nhu cầu nước thì nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn gần 73% (đến năm 2020) kế đến là công nghiệp gần 12%.

Nếu so với tổng lượng nước có được trên lưu vực khoảng 45 tỷ m3 (nước mặt khoảng 414 tỷ m3 [LVSĐN: 35 tỷ m3 vùng ven biển:64 tỷ m3] nước ngầm 36 tỷ m3) khoảng 29% tổng lượng nước có trên lưu vực. Tuy nhiên do phân bố không đều theo không gian và thời gian việc thiếu nước đã đang và sẽ xảy ra. Do vậy các biện pháp liên quan nhằm phân bổ lại nguồn nước một cách hợp lý cần được nghiên cứu xem xét.

3. Tài nguyên rừng LVSĐN&PC phong phú và đa dạng. Tổng diện tích đất có rừng hiện tại còn khoảng 1.969.942 ha chiếm tỷ lệ 355%. Trong những năm gần đây công tác kiểm soát rừng ngày được nâng cao hơn tuy nhiên hàng năm rừng bị chặt phá rừng cháy vẫn tiếp tục (khoảng từ 200 đến 1.800 ha). Phá rừng đã tác động xấu đến bảo vệ thảm thực vật và môi trường sinh thái làm cạn kiệt nguồn nước gây lũ lớn tập trung nhanh và xói mòn bề mặt lưu vực làm bạc màu đất... Do vậy nhiệm vụ đặt ra đối với công tác quản lý bảo vệ tài nguyên lâm nghiệp là rất quan trọng không những đối với bảo tồn thảm thực vật rừng hệ sinh thái và phát triển tài nguyên lâm nghiệp nâng cao đời sống của nhân dân trong lưu vực mà còn cho quản lý tài nguyên nước và giảm nhẹ thiên tai do nước gây ra.

Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ che phủ trên lưu vực lên mức 43% trong đó cần đặc biệt lưu ý những vùng hiện tỷ lệ che phủ còn rất thấp: Bình Dương Bình Phước Tây Ninh Đắc Nông...; Bảo vệ các khu rừng đặc dụng: nơi có nhiều hệ sinh thái rừng kiểu rừng động vật hoang dã cư trú bảo tồn đa dạng sinh học; Bảo đảm nhu cầu gỗ và lâm sản đang ngày một tăng cao theo phát triển.

Để bảo đảm phát triển bền vững tài nguyên Rừng cần gắn liền quyền lợi của cộng đồng dân cư trên địa bàn lâm nghiệp thực hiện giao đất giao rừng cho doanh nghiệp tập thể và gia đình thực hiện sản xuất nông lâm kết hợp trong đó lưu ý đặc điểm của các tiểu vùng khác nhau để rừng đáp ứng được chức năng phòng hộ và yêu cầu khai thác.

4. Dân số trên lưu vực năm 2005 là 16.9333 ngàn người với mật độ bình quân 3054 người/km2. Trong đó có 497% dân sống trong vùng đô thị. Tốc độ tăng trưởng bình quân 267% năm (trong đó 1% tăng cơ học). Đây là vùng kinh tế phát triển năng động nhất so với cả nước (chiếm khoảng 47% GDP của cả nước). Các khu vực kinh tế cũng đều có tỷ trọng lớn. Đặc biệt khu vực công nghiệp và xây dựng có GDP luôn chiếm hơn một nữa GDP công nghiệp và xây dựng của cả nước. Nhịp độ tăng trưởng GDP của các tỉnh trong vùng cũng tăng liên tục trong giai đoạn 2001 - 2005 bình quân hàng năm đạt mức 12% so với cả nước là 77%. Quy mô và nhịp độ phát triển công nghiệp và khu công nghiệp tập trung trên lưu vực có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước chiếm tới gần 63% GDP công nghiệp của cả nước và có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm ở mức trên 15%. Sự phát triển kinh tế và dân số gia tăng kéo theo nhu cầu về năng lượng tài nguyên thiên nhiên nói chung nguồn nước nói riêng nhu cầu nhân lực cơ sở hạ tầng. Bên cạnh nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội thì nước thải từ sản xuất từ sinh hoạt đổ ra sông rạch ngày càng nhiều hơn. Tất cả các sông rạch vừa và nhỏ chảy qua các khu dân cư sản xuất của TP. Hồ Chí Minh Biên Hòa trở thành các con sông chết ở đó mức độ ô nhiễm vượt quá hàng trăm lần so với mức cho phép. Chất lượng nước các sông lớn Sài Gòn Vàm Cỏ Thị Vải Đồng Nai ở từng đoạn hạ lưu cũng giảm nhiều so với mức cho phép. 

5. Cần gắn các mục tiêu kinh tế - xã hội với chiến lược quản lý phát triển bền vững LVSĐN&PC trong đó đặc biệt lưu ý:

- Xóa đói giảm nghèo cần chú ý đến các khu vực nông thôn đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa khu vực dân nghèo thành thị 

- Đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

- Phát triển nhanh cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ.

- Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân nâng cao phúc lợi xã hội.

6Các vấn đề liên quan đến phát triển và quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông Đồng Nai bao gồm 16 vấn đề. Trong điều kiện hạn chế về kinh phí cũng như các năng lực phát triển và quản lý tài nguyên nước liên quan các vấn đề ưu tiên cần giải quyết như sau:

- Vấn đề 1: Ô nhiễm nguồn nước

- Vấn đề 2: Thiếu nước trong mùa khô

- Vấn đề 3: Quản lý tài nguyên nước

- Vấn đề 4: Khai thác nước ngầm quá mức

- Vấn đề 5: Lũ lụt trong mùa mưa.

7. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đòi hỏi phải có sự tham gia của tất cả mọi người mọi tổ chức trong xã hội. Vì thế việc giáo dục nâng cao nhận thức của nhân dân về môi trường và phát triển bền vững là thực sự cần thiết với mục tiêu:

- Làm cho mọi người có những hiểu biết tổng hợp về yêu cầu gìn giữ môi trường phát triển bền vững mối liên quan giữa nơi họ sống với vùng chung quanh và với toàn cầu

- Làm cho họ nhận thức được mối quan hệ tương hỗ giữa kinh tế - chính trị - xã hội và môi trường

- Hiểu được vai trò của nước trong cuộc sống và phát triển là không thay thế được và sự suy thóai cạn kiệt nguồn nước sẽ là tai họa lớn lao cho con người sống trên lưu vực và đất nước

- Tạo cho họ những thói quen tích cực kỹ năng và nâng cao nhận thức tự giác bảo vệ và phát triển bền vững môi trường

- Việc giáo dục ý thức và nhận thức về môi trường và phát triển bền vững phải được tiến hành cho tất cả các bậc học giáo dục trong cộng đồng tổ chức quần chúng xã hội cho công chức trong các cơ quan.

8. Sự phát triển của các tỉnh trên LVSĐN&PC không đồng đều dẫn đến sự khai thác tài nguyên (sử dụng đất nước) bố trí cơ sở hạ tầng sản xuất không hợp lý mâu thuẫn cạnh tranh không lành mạnh trong phát triển. Vì thế cần có quy hoạch Liên ngành – Liên tỉnh nhằm các mục tiêu giảm bớt chênh lệch về trình độ phát triển về đầu tư xây dựng cơ sở công nghiệp cơ sở hạ tầng và các vấn đề văn hóa khoa học kỹ thuật phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau để khai thác thế mạnh tự nhiên của từng vùng: miền núi trung du đồng bằng thượng lưu hạ lưu nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững trên toàn bộ lưu vực.