Đỗ Đức Dũng (2004)
|
Vùng ĐBSCL |
Hà Lan |
THÔNG TIN CHUNG |
|
|
- Diện tích tự nhiên: 39.000 km2 (3.900.000 ha) - Dân số: 11.000.000 người - Đặc điểm chung: o Vùng đất thấp, nằm ở hạ lưu sông Mekong o Thường bị ngập lụt o Bị ảnh hưởng bởi mặn ở vùng ven cửa sông
o Mưa: 1.900 mm; bốc hơi: 500mm o Nước ngầm bị ảnh hưởng bởi sự xâm nhập mặn từ biển o Có hệ thống mạng lưới kênh sông chằng chịt |
- Diện tích tự nhiên (cả nước): 34.000 km2 (3.400.000 ha) - Dân số: 14.000.000 người - Đặc điểm chung: o Vùng đất thấp, nằm ở hạ lưu các Rhine, Meuse, Scheldt o Thường bị ngập lụt o Bị ảnh hưởng bởi mặn ở vùng ven cửa sông o Khoảng ½ diện tích nằm dưới mực nước biển từ 1-6 mét o Mưa: 775 mm; Bốc hơi: 475mm o Nước ngầm bị ảnh hưởng bởi sự xâm nhập mặn từ biển o Có mạng lưới hệ thống sông kênh dày đặc |
|
o ĐBSCL đã được khai khẩn, phát triển từ xa xưa. Nhưng chỉ phát triển mạnh trong vài thập niên gần đây và đã trở thành một trong những vựa lúa lớn nhất của cả nước |
o Từ hơn trăm năm nay đã xây dựng các đê biển, đê sông ở vùng cửa sông và trong đất liền để cải tạo đất. Các vùng đất đã trở thành vùng đất trũng. Và diện tích này chiếm khoảng ½ diện tích của cả nước |
|
o Chủ yếu phát triển nông nghiệp đặc biệt là phát triển lúa |
o Ngoài phát triển nông nghiệp đây là nơi tập trung dân cư và các khu công nghiệp |
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
|
|
Giai đoạn trước đây |
|
|
- Góp phần ổn định an ninh lương thực quốc gia o Xây dựng các hệ thống kênh mương nhằm phát triển nông nghiệp (chủ yếu trồng lúa) o |
- Nhằm bảo vệ sự tồn tại của quốc gia (1/2 diện tích nằm dưới mực nước biển) o Xây dựng hệ thống đê gồm đê sông, đê biển o Hệ thống trạm bơm (bơm gió, bơm diesel) |
|
- Kết quả (được) o Đưa Việt Nam từ một nước thiếu gạo thành một nước xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới o On định tình hình xã hội, tạo công ăn việc làm - Kết quả (chưa được) o Lương thực dư thừa, giá cả nông sản không ổn định, tiêu thụ kém o Hệ sinh thái bi ảnh hưởng |
- Kết quả (được) o Bảo vệ được ½ diện tích quốc gia khỏi bị ngập dưới mực nước biển o On định tình hình xã hội, tạo công ăn việc làm
- Kết quả (chưa được) o Hệ sinh thái bị ảnh hưởng |
Giai đoạn sau này |
|
|
- Phát triển trên quan điểm tổng hợp o An ninh lương thực quốc gia o Kiểm soát lũ o Phát triển nông nghiệp o Phát triển thủy sản o Phát triển giao thông o Bảo vệ môi trường sinh thái o On định tình hình xã hội - Những hoạt động chính o Khai thông đào mới hệ thống kênh mương o Xây dựng hệ thống giao thông thủy bộ kết hợp o Xây dựng các cụm, tuyến dân cư o Xây dựng hệ thống, đê sông, biển; cống kiểm soát lũ, mặn (chủ yếu là cống tự chảy) |
- Phát triển trên quan điểm tổng hợp o Vì sự tồn tại của quốc gia o Kiểm soát lũ o Cấp nước ( DS,CN, NN...) o Phát triển giao thông thủy bộ o Bảo vệ môi trường sinh thái o On định tình hình xã hội
- Những hoạt động chính o Kiên cố hóa hệ thống đê, kênh mương, cống... o Xây dựng, kiên cố hóa hệ thống giao thông thủy bộ kết hợp o Xây dựng và hiện đại hóa hệ thống trạm bơm (bơm diesel, bơm điện...) o Hiện đại hóa vận hành các hệ thống công trình trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật (tự động hóa, mô hình hóa (thủy lực, thủy văn, chất lượng nước,môi trường,...), hệ thống thông tin tự động... |
|
- Kết quả (được) o On định lương thực quốc gia o Hình thành chiến lược kiểm soát lũ o Hình thành cụm tuyến dân cư vượt lũ o Phát triển nông nghiệp (lúa+cây AQ+ kết hợp nuôi trồng thủy sản) o Hệ thống giao thông thủy bộ phát triển o On định tình hình xã hội, tạo công ăn việc làm o Cải thiện được môi trường sinh thái
- Kết quả (chưa được) o Lương thực dư thừa, giá cả nông sản không ổn định, tiêu thụ kém o Hệ sinh thái bị ảnh hưởng o Các hệ thống công trình chưa thực sự đạt hiệu quả cao |
- Kết quả (được) o Bảo vệ bền vững ½ diện tích quốc gia khỏi bị ngập dưới mực nước biển o On định việc cấp nước đủ về số lượng, đạt về chất lượng o Giao thông thủy phát triển mạnh, bền vững o Môi trường và hệ sinh thái phát triển bền vững, ổn định tạo điều kiện kết hợp phát triển du lịch dịch vụ o On định tình hình xã hội, tạo công ăn việc làm o Hiệu quả các công trình thủy lợi cao và đáp ứng kịp thời các trường hợp sự cố xảy ra - Kết quả (chưa được) o o |
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC |
|
|
Mới hình thành Gần đây đã hình thành Ban QLQHĐBSCL |
Các Ban Quản lý tài nguyên nước của các khu vực đã hình thành và phát triển từ lâu (dưới đây là phần quản lý nước ngầm) |
|
Thời kỳ xa xưa: Chưa hình thành một sự quản lý nào về sử dụng tài nguyên nước |
Thời kỳ xa xưa: Vấn đề quản lý tài nguyên nước của các ban là tập trung tiêu lượng nước thừa ở các vùng trũng và quản lý việc cung cấp nước (bằng nước ngầm) bằng cách duy trì mực nước ngầm tầng nông. Với những hoạt động này các ban quản lý này được xem như là các cơ quan quản lý tài nguyên nước đầu tiên của Hà Lan. |
|
Thời kỳ đến năm 1954: Do chiến tranh vùng đất này cũng chưa hình thành việc quản lý nào cụ thể. Đất đai vẫn còng hoang hóa nhiều. Các hoạt động phát triển ở đây chủ yếu là tự phát dựa vào đặc điểm tự nhiên là chính |
Thời kỳ đến năm 1954: Các hoạt động của các ban nói trên diễn ra trong thời gian dài. Mãi đến giữa thế kỷ 19 khi mà việc sử dụng nước ngầm phát triển mạnh trên toàn quốc. Sự hiểu biết về nước ngầm còn nhiều hạn chế nên trong thời gian này đã nãy sinh nhiều vấn đề trong việc cung cấp nước (như nhiễm mặn) đặc biệt ở các vùng tây và bắc Hà Lan. Nước ngầm được xem như là một nguồn tài nguyên được khai thác tự do nên đã được cảnh báo như là một mối nguy hại tiềm tàng đối với việc sử dụng nước sau này. Chưa có một điều luật nào cụ thể về việc quản lý nước đặc biệt là nước ngầm chỉ trừ một điều khoảng chung trong luật lệ là trách nhiệm pháp lý đối với việc gây trở ngại các hoạt động và các quyền lợi của các tổ chức |
|
Từ năm 1954-1980: |
Từ năm 1954-1980: Luật về sử dụng nước ngầm cho các công ty cung cấp nước năm 1954 đã đưa ra thủ tục cấp giấy phép cho việc sử dụng nước ngầm trong việc cung cấp nước công cộng. Chính phủ thực hiện việc cấp giấy phép này. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề chưa phù hợp với thực tế và thỏa đáng đối với các công ty cấp nước công cộng bởi vì khi họ muốn mở rộng việc cấp nước của mình thì thủ tục cấp phép quá rườm rà và mất thời gian trong khi các đơn vị tư nhân có thể thực hiện nhanh hơn. Do đó các chính quyền địa phương bổ sung thêm các điều khoản của riêng mình trong việc quản lý việc sử dụng nguồn nước ngầm. Cả 3 cấp quản lý trung ương, tỉnh và địa phương đều liên quan đến vấn đề quản lý nguồn nước nhưng thiếu phối hợp chặt chẽ với nhau. |
|
Quản lý nguồn nước ngầm trong thời gian gần đây: |
Quản lý nguồn nước ngầm trong thời gian gần đây: Sự bắt đầu mạnh mẽ nhất của việc quản lý tài nguyên nươc trong thời kỳ này chính là sự phân cấp quản lý xuống các tỉnh, trung ương chỉ chịu trách nhiệm đưa ra các hướng dẫn chung. Việc quản lý nguồn nước ngầm (cả chất và lượng) đều hướng tới các tổ chức và khung pháp lý mới. Những thay đổi chính là tập trung chuyển từ phương pháp tiếp cận theo các ngành thành phương pháp tiếp cận có tính chất tổng hợp liên quan đến các hoạt động và lợi ích chung. Luật nước ngầm năm 1984 có một bước tiến mới hơn nhưng vẫn tập trung vào vấn đề quản lý lượng nước ngầm. Nó đưa ra các quy định rằng, về nguyên tắc, tất cả các việc khai thác nước ngầm và việc xả trở lại nước ngầm đều là đối tượng bắt buộc của việc cấp giấy phép. Tất cả các cá nhân và tổ chức khai thác hay xả trở lại nước ngầm đều bắt buộc phải đăng ký, khai báo với tỉnh. Theo luật này các tỉnh phải chuẩn bị các quy hoạch quản lý như là tài liệu cơ bản trong vấn đề vận hành quản lý nguồn nước của mình. Và trong 10 năm quy hoạch này phải được rà soát lại ít nhất 1 lần. Các vấn đề liên quan đến quản lý vấn đề ô nhiễm nguồn nước đã được đề cập trong Luật tạm thời về tái bố trí lại đất đai (1982) và luật bảo vệ đất đai (1986). Luật bảo vệ đất đai năm 1986 liên quan đến việc bảo vệ đất đai chung bằng cách đưa ra các điều khoản bảo vệ đất đai do các hoạt động có thể làm ô nhiễm đất do các chất hóa học thải ra và đưa ra các điều khoản bảo vệ đất đai và bảo vệ vùng nước ngầm. Luật bảo vệ đất đai bắt buộc các tỉnh phải chuẩn bị quy hoạch bảo bệ nước ngầm để cung cấp khung kháp lý chung. Việc kết hợp với các vấn đề quản lý tài nguyên nước mặt cũng như các lĩnh chính sách khác vẫn còn yếu. Tuy nhiên, các vấn đề cơ bản về tổ chức và khung pháp lý của vấn đề quản lý nguồn nước ngầm khá hoàn thiện. Các hoạt động quản lý ở cấp cao có thể kiểm soát được toàn bộ quốc gia thông qua các quy hoạch của các tỉnh, việc cấp giấy phép, các vùng bảo vệ nước ngầm, các vấn đề về quản lý bảo vệ đất đai, chất lượng nước ngầm... |
PHẦN VIẾT THÊM
Đất nước Hà Lan có diện tích khoảng 34000 km2 với dân số khoảng 14 triệu người tương đương với vùng ĐBSCL (có diện tích tự nhiện khoảng 39000 km2 và khoảng 11 triệu dân). Vùng ĐBSCL và đất nước Hà Lan có các điều kiện địa hình tương tư như nhau là đều nằm ở vùng hạ lưu các sông (Hà Lan nằm ở hạ lưu các sông như Rhine, Meuse, Scheldt; ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mê Kông) có đặc điểm là địa hình thấp chịu tác động của mặn và triều từ biển và lũ từ thượng lưu các sông suối đổ về. Ngoài ra, Hà Lan còn nổi tiếng là một quốc gia có khoảng ½ diện tích cả nước nằm dưới mực nước biển trung bình từ 1 đến 6 mét.
Cả 2 khu vực này đều có quá trình phát triển lâu dài. Tuy nhiên do các đặc điểm phát triển kinh tế khác nhau nên các hoạt động liên quan đến phát triển tài nguyên nước ở 2 khu vực cũng có những nét khác nhau. Do sự tồn tại có tính chất sống còn của quốc gia, người Hà Lan đã phát triển các vùng châu thổ của mình thành các vùng đất sinh sống và phát triển thịnh vượng bằng các xây dựng các hệ thống thủy lợi bao gồm hệ thống kênh mương, đê sông và các hệ thống đê biển từ hàng trăm năm nay. Sự phát triển này đã trải qua những thăng trầm trong sự quá trình tồn tại của nó tuy nhiên đến nay sự phát triển thủy lợi ở khu vực này đã trở thành những bài học lớn trong quá trình phát triển thủy lợi đối với các quốc gia khác trên thế giới.
Những bài học trong quá trình phát triển thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội của Hà Lan được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Về chiến lược phát triển: Do địa hình thấp với khoảng ½ diện tích quốc gia nằm dưới mực nước biển từ 1 đến 6 mét so với mức trung bình của mực nước biển. Người Hà Lan không còn con đường nào khác để bảo vệ lãnh thổ của mình bằng cách xây dựng các hệ thống đê sông, đê biển kết hợp với các công trình thủy lợi khác chóng lại thiên nhiên. Chiến lược phát triển này xuyên suốt qua quá trình phát triển của quốc gia. Thông qua quá trình phát triển của mình, người Hà Lan từ vấn đề chính yếu là bảo vệ lãnh thổ đã có những thay đổi, mở rộng trong chiến lược phát triển thủy lợi của họ như không chỉ bảo vệ lành thổ mà còn mở rộng lãnh địa đó bằng việc xây dựng cải tạo các vùng đất trũng cũng như kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Ngày nay, nếu có dịp đến đất nước Hà Lan người ta không khỏi ngở ngàng trước sự diệu kỳ của đất nước nhỏ bé này về thủy lợi. Bởi tất cả các công trình của họ đều phải ngày đêm chóng chọi với những thử thách lớn từ biển cũng như lũ lụt từ phía thượng lưu. Không chỉ thế họ biến một vũng đất trũng nằm sâu dưới mực nước biển thành một vùng đất trù phù về kinh tế, an toàn về sự sống và có một môi trường sạch xanh và đẹp với đầy những khu công nghiệp phát triển, hệ thống thủy bộ liên hoàn, những cánh đồng phẳng, đẹp phát triển chăn nuôi và đầy những cánh đồng hoa tuy líp nổi tiếng rực rỡ sắc hoa. Lợi nhuận thu được từ việc trồng hoa ở Hà Lan chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng sản phẩm quốc nội của họ (chiếm khoảng 30 tỷ USD so với tổng sản phẩm GDP khoảng 300 tỷ USD/năm) ???
Về mặt xây dựng công trình: Do địa hình thấp nằm sâu ở dưới mực nước biển nên người Hà Lan đã xây dựng các hệ thống đê biển kiên cố ; hệ thống đê sông; hệ thống kênh mương; và xây dựng các hệ thống công trình bơm tiêu trên quan điểm phát triển tổng hợp bao gồm chóng lũ đến từ thượng lưu các sông suối, cung cấp nước, phát triển giao thông thủy, bộ kết hợp, phát triển du lịch, bảo vệ môi trường.... Các hệ thống này ngày nay đã được hiện đại hóa thông qua việc kiên cố hóa, vận hành các công trình này trên cơ sở phát triển tổng hợp như đã nêu ở trên với một hệ thống vận hành tự động/ bán tự động hiện đại và hiệu quả....
Về mặt quản lý: Có lẽ để đạt được hiệu quả trong quá trình phát triển thủy lợi của mình người Hà lan đã sớm nhận ra những yếu kém tồn tại trong quản lý tập trung của họ. Cách thức quản lý tập trung của họ cùng với những hạn chế về kiến thức thủy lợi trong những thập niên đầu của thế kỹ 20 đã gây ra những hậu quả không nhỏ như trận lũ lụt năm 1953 làm hàng trăm ngàn người bị chết cũng như việc ảnh hưởng của xâm nhập mặn, ô nhiễm chất lượng nước ngầm. Ngày nay, việc quản lý tài nguyên nước ở Hà Lan được xây dựng trên quan điểm phân cấp quản lý cho các địa phương. Nhà nước chỉ quản lý việc phát triển tài nguyên trên cơ sở đưa ra các hướng dẫn chung và trên cơ sở Luật lệ đã được ban hành. Địa phương các tỉnh chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý tài nguyên nước trên cơ sở các quy hoạch, kế hoạch đã được thống nhất. Địa phương tỉnh cũng phân cấp quản lý cho các ban quản lý ở các vùng và các lưu vực sông. Các quy hoạch này đều được phát triển, hình thành trên quan điểm phát triển tổng hợp. Và các quy hoạch này phải được rà soát lại ít nhất 5 năm 1 lần (đối với quy hoạch phát triển tài nguyên nước mặt ) và 10 năm 1 lần ( đối với phát triển tài nguyên nước ngầm).
Về bảo vệ môi trường: Vấn đề nhận thức về sự phát triển thủy lợi trên quan điểm lợi ích tổng hợp ở Hà Lan đã có những bước đi trước so với sự phát triển ở vùng ĐBSCL. Những quan điểm này được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống luật lệ liên quan, tổ chức quản lý và xây dựng, vận hành các hệ thống công trình trên quan điểm sử dụng lợi ích tổng hợp nguồn nước.